Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 7
Tháng 12 : 7
Năm 2022 : 262.219
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

TUYÊN TRUYỀN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH

Ngày soạn:

Ngày tuyên truyền:

Người tuyên truyền:

Lớp:         Trường THCS Phú Nhuận

 

 

 

TUYÊN TRUYỀN

GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH

 

Trong đời sống xã hội, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng, vừa là công cụ quản lý nhà nước hữu hiệu, vừa tạo hành lang pháp lý an toàn, tin cậy, thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Cùng với việc không ngừng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống trở thành yêu cầu cấp thiết, cần được thực hiện thường xuyên, liên tục và hiệu quả với nhiều hình thức, biện pháp phù hợp. Ở nước ta, ngày 09/11 hàng năm là Ngày Pháp luật với dấu mốc đây là ngày ban hành bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946. Là bản Hiến pháp của nền dân chủ đầu tiên của Nhà nước ta, Hiến pháp năm 1946 đã thấm nhuần, thể hiện triệt để tinh thần, tư tưởng của Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân.

     Ngày Pháp luật có ý nghĩa giáo dục sâu sắc trong việc đề cao giá trị của pháp luật trong Nhà nước pháp quyền, hướng mọi tổ chức, cá nhân tính tích cực tham gia với hành vi, thái độ xử sự pháp luật đúng đắn, đề cao quyền cũng như trách nhiệm, nghĩa vụ của cá nhân công dân trong học tập, tìm hiểu phluật và tự giác chấp hành pháp luật. Qua đó, góp phần nâng cao ý thức và niềm tin pháp luật, từng bước xây dựng và củng cố các giá trị văn hóa pháp lý trong cuộc sống xã hội.

     Hưởng ứng ngày pháp luật VN. Thực hiện công văn số 1274/ SGDDT về việc định hướng nội dung phổ biến pháp luật quí IV/ 2021. Cô giới thiệu với các em một số nội dung pháp luật cơ bản.

I. SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI

Những năm gần đây, mạng xã hội (MXH) đã có bước phát triển mạnh mẽ, tác động lớn đến đời sống xã hội ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. MXH đã trở thành một thuật ngữ phổ biến với những tính năng đa dạng cho phép người dùng kết nối, chia sẻ, tiếp nhận thông tin một cách nhanh chóng, hiệu quả. Tại Việt Nam, các MXH bắt đầu du nhập từ những năm 2000 dưới hình thức các trang nhật ký điện tử (blog). Đến nay, có khoảng 270 MXH được cấp giấy phép hoạt động với khoảng 55 triệu người dùng, chiếm 57% dân số. Các trang mạng xã người Việt Nam vào MXH hơn 2 giờ.hội thường dùng như Facebook, YouTube, Zalo…Trung bình mỗi ngày

  1. Mặt tích cực của mạng xã hội

Thực tế cho thấy, internet và các trang MXH đem tới cho người dùng rất nhiều tiện ích nhờ tốc độ thông tin nhanh, gần như tức thời. Nội dung phong phú, hình thức sinh động, hấp dẫn.

- Nếu được sử dụng phù hợp, đúng mục đích, MXH giúp mỗi cá nhân trao đổi thông tin, giải trí, tra cứu tài liệu, kinh doanh trực tuyến có hiệu quả

- đồng thời, cũng là kênh thông tin quan trọng góp phần đưa các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân nhanh chóng, kịp thời.

2. Mặt tiêu cực

Song, bên cạnh những mặt tích cực, MXH cũng đem lại nhiều tác hại và hệ lụy cho mỗi cá nhân cũng như cộng đồng. Đối với cá nhân, lạm dụng mạng internet và MXH có thể dẫn tới tình trạng phụ thuộc, gây “nghiện”, làm ảnh hưởng tới chất lượng học tập, giảm sút năng suất lao động, thậm chí gây tác hại cho sức khỏe, tâm sinh lý và lối sống của con người, nhất là trong thanh, thiếu niên. Thông tin trên MXH tuy nhanh, nhiều nhưng lại khó kiểm soát, khiến người dùng nhanh chóng rơi vào tình trạng hỗn loạn bởi thông tin không được kiểm chứng. Thông qua MXH, các đối tượng phản động, chống đối Nhà nước dễ dàng lợi dụng để tung những thông tin bịa đặt, sai sự thật, phá hoại tư tưởng, nội bộ, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, gây mâu thuẫn dân tộc, kích động biểu tình, bạo loạn.

Những luồng thông tin xấu, độc tác động tiêu cực đến tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân; gây hoang mang, dao động, làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước. Vì vậy, việc quy định các biện pháp bảo vệ an ninh mạng, nhất là trên MXH có vai trò vô cùng quan trọng, là cơ sở pháp lý để triển khai các hoạt động bảo vệ an ninh mạng và điều tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng. Do vậy, Luật An ninh mạng là cơ sở pháp lý quan trọng trong phòng ngừa, đấu tranh, xử lý các hoạt động vi phạm pháp luật trên không gian mạng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân; tạo hành lang pháp lý để nâng cao năng lực bảo vệ hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, góp phần bảo đảm chủ quyền, an ninh, trật tự và xây dựng môi trường an toàn, lành mạnh trên không gian mạng.

Không gian ẩn danh và ít rào cản của MXH còn là môi trường thuận lợi cho tội phạm, phát ngôn thù ghét.

Một số định hướng giúp các em học sinh sử dụng mạng xã hội an toàn. Nâng cao cảnh giác.Với học sinh, dùng mạng xã hội phải văn minh, lịch sự. Ta có thể dùng mạng chia sẻ thông tin học tập, ôn thi... Đừng theo trào lưu hay thích nổi tiếng hòa theo xu hướng để trở thành người thiếu hiểu biết, bị các đối tượng xấu lợi dụng để vi phạm pháp luật. Môi trường ảo, tác động thật, nên cần có trách nhiệm trên môi trường trực tuyến. Mạng xã hội là môi trường ảo nhưng cuộc sống của chúng ta là thật, vì vậy làm việc gì cũng cần suy nghĩ, cân nhắc. Trước khi muốn chia sẻ bất cứ điều gì trên mạng xã hội, ta nên suy nghĩ kỹ hoặc nếu cảm thấy cần thiết có thể trao đổi với thầy cô, cha mẹ để suy nghĩ liệu nội dung đó sẽ được hiểu như thế nào. Những câu hỏi có thể là: Nội dung này có thể bị hiểu nhầm hay mang nội dung bắt nạt/xúc phạm người khác không? Liệu ai đó có thể sử dụng nội dung này để gây hại đến ta không? Ta có buồn không nếu có người chia sẻ nội dung đó với những người khác nữa? Điều tồi tệ nhất có thể xảy ra nếu ta chia sẻ nội dung này là gì? Xác định thời điểm chia sẻ thông tin khi sử dụng MXH: Mạng xã hội là con người thứ hai của ta.. Những khi ta gặp vấn đề, ta nên chia sẻ với thầy cô, bạn bè, gia đình hoặc những người xung quanh để có cách giải quyết trực tiếp và phù hợp hơn. Chính vì vậy, không chỉ cần kiểm soát thông tin cá nhân, các nội dung theo dõi mà ta cũng cần có kỹ năng sống khác là kiểm soát cảm xúc của bản than. Bảo mật thông tin cá nhân trên mạng xã hội; Để bảo vệ mình trên môi trường trực tuyến, chúng ta nên biết cách bảo vệ quyền riêng tư của mình bằng những cách đơn giản và hiệu quả để kiểm soát thông tin cá nhân. Sử dụng mật khẩu mạnh và bảo mật hai lớp cho tài khoản trực tuyến là những cách đơn giản nhất để bắt đầu kiểm soát thông tin cá nhân.

    Thống nhất về thời gian sử dụng Internet: Khi sử dụng MXH ta thường không quản lý được thời gian cần xây dựng kế hoạch quản lý thời gian. Nên dụng MXH sau khi đã hoàn thành các công việc khác và đảm bảo không ảnh hưởng tới bản than.

II. GIỚI THIỆU 1 SỐ ĐIỀU LUẬT AN NINH MẠNG

Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấ về an ninh mạng

Sử dụng không gian mạng để thực hiện hành vi sau đây: a) Hành vi quy định tại khoản 1 Điều 18 của Luật này;

b) Tổ chức, hoạt động, câu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

c) Xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc;

d) Thông tin sai sự thật gây hoang mang trong Nhân dân, gây thiệt hại cho hoạt động kinh tế - xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác;

Điều 9. Xử lý vi phạm pháp luật về an ninh mạng

Người nào có hành vi vi phạm quy định của Luật này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Nghị định số 15/2020/NĐ-CP “Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử”, có hiệu lực thi thành từ ngày 15/4/2020. Đáng chú ý, Nghị định này tăng mức xử phạt đối với các hành vi lợi dụng mạng xã hội đăng tải, chia sẻ thông tin sai sự thật.

Cụ thể, tại Điều 101, Nghị định số 15/2020/NĐ-CP quy định mức xử phạt đối với hành vi “Vi phạm các quy định về trách nhiệm sử dụng dịch vụ mạng xã hội”.

Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng mạng xã hội để thực hiện một trong các hành vi sau:

Cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân;

Cung cấp, chia sẻ thông tin cổ súy các hủ tục, mê tín, dị đoan, dâm ô, đồi trụy, không phù hợp với thuần phong, mỹ tục của dân tộc;

Cung cấp, chia sẻ thông tin miêu tả tỉ mỉ hành động chém, giết, tai nạn, kinh dị, rùng rợn;

Cung cấp, chia sẻ thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân, kích động bạo lực, tội ác, tệ nạn xã hội, đánh bạc hoặc phục vụ đánh bạc;

Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi tiết lộ thông tin thuộc danh mục bí mật Nhà nước, bí mật đời tư của cá nhân và bí mật khác mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc gỡ bỏ thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn hoặc thông tin vi phạm pháp luật do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này.

III.  TUYÊN TRUYỀN KHÔNG TÀNG TRỮ, SỬ DỤNG, VẬN CHUYỂN VÀ ĐỐT PHÁO NỔ

   1. Các hành vi  bị nghiêm cấm theo Nghị định 36/2009 ngày 15/4/2009 của Chính phủ về quản lý, sử dụng pháo:

 *Điều 4 Nghị định 36/2009 ngày 15/4/2009 của Chính phủ về quản lý, sử dụng pháo quy định các hành vi bị nghiêm cấm như sau:

          - Sản xuất, mua, bán, nhập khẩu, xuất khẩu, vận chuyển, tàng trữ và sử dụng trái phép các loại pháo nổ, thuốc pháo nổ.

          - Sản xuất, mua, bán, nhập khẩu, xuất khẩu, vận chuyển, tàng trữ và sử dụng trái phép các loại pháo hoa, thuốc pháo hoa.

          - Mua, bán, tàng trữ, sử dụng thuốc nổ lấy từ các loại bom, mìn, đạn, lựu đạn, vật liệu nổ quân dụng (dùng trong quốc phòng, an ninh), vật liệu nổ công nghiệp để sản xuất trái phép pháo, thuốc pháo.

          - Sử dụng súng, dùng vật liệu nổ không đúng quy định để gây tiếng nổ thay cho pháo

  2. Các loại pháo, sản phẩm pháo  được sử dụng theo quy định tại Nghị định 36/2009 ngày 15/4/2009 của Chính phủ về quản lý, sử dụng pháo:

          Điều 5 Nghị định 36/2009 ngày 15/4/2009 của Chính phủ về quản lý, sử dụng pháo quy định các loại pháo, sản phẩm pháo được sử dụng như sau:

          - Pháo hoa do Bộ Quốc phòng sản xuất, nhập khẩu để tổ chức bắn pháo hoa đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép.

          - Pháo hoa do tổ chức, cá nhân nước ngoài được Thủ tướng Chính phủ Việt Nam cho phép và được Bộ Công an cấp giấy phép mang vào Việt Nam để dự thi bắn pháo hoa.

          - Pháo hiệu dùng trong các hoạt động báo áp thấp nhiệt đới, bão, lũ, cứu hộ, cứu nạn, giao thông vận tải và hoạt động quân sự.

           Các sản phẩm như: pháo hoa lễ hội bằng giấy (trừ loại hoa có chứa kim loại), pháo điện, pháo trang trí bằng giấy, bằng nhựa, bằng tre, trúc, kim loại; que hương phát sáng; các sản phẩm phát tín hiệu ánh sáng, màu sắc, âm thanh được dùng trong các hoạt động văn hóa, văn nghệ không gây nên tiếng nổ.

 3. Quy định xử phạt

     3.1. Cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm quy định về sử dụng các loại pháo, sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép pháo, thuốc pháo thì bị xử phạt vi phạm hành chính như sau:

          - Cha mẹ, người nuôi dưỡng của người dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm, bồi thường hoặc nộp tiền phạt do hành vi của người dưới 16 tuổi gây ra.( Để con trẻ sử dụng pháo nổ và đốt pháo có phần trách nhiệm của cha mẹ trong việc giáo dục nhận thức của con trẻ)Theo điểm đ, khoản 2 Điều 13, Nghị định số 73/2010/NĐ-CP ngày 12/7/2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội quy định: - Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng và tịch thu tang vật đối với hành vi sử dụng các loại pháo mà không được phép; - Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng và tịch thu tang vật phương tiện đối với một trong những hành vi sau đây: Sản xuất, tàng trữ, mua, bán, vận chuyển trái phép pháo, thuốc pháo nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

          - Đối với người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, không thuộc trường hợp xử phạt hành chính theo Điều 13, Nghị định 73 mà đốt pháo ở nơi công cộng, những nơi đang diễn ra các cuộc họp, những nơi tập trung đông người; đốt pháo nổ ném ra đường, ném vào người khác, ném vào phương tiện khác đang lưu thông, ném từ trên cao xuống, đốt pháo nổ mang theo xe đang chạy… thì còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 điều 245 Bộ Luật Hình sự.

 3.2. Người đốt pháo bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp sau:

 3.2.1. Người nào đốt pháo thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 điều 245 Bộ luật Hình sự, phạt tiền từ 01 triệu đồng đến 10 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm:

          - Đốt pháo ở nơi công cộng, những nơi đang diễn ra các cuộc họp, những nơi tập trung đông người;

          - Đốt pháo nổ ném ra đường, ném vào người khác, ném vào phương tiện khác đang lưu thông, ném từ trên cao xuống, đốt pháo nổ mang theo xe đang chạy;

          - Đốt pháo nổ gây thiệt hại sức khoẻ, tài sản của người khác nhưng mức độ thiệt hại chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội khác;

          - Đốt pháo nổ với số lượng tương đương từ 1kg đến 5 kg đối với pháo thành phẩm hoặc tương đương từ 0,1kg đến dưới 0,5kg đối với thuốc pháo;

          - Đốt pháo với số lượng lớn dưới 1kg pháo thành phẩm hoặc dưới 0,1kg đối với thuốc pháo và đã bị xử lý hành chính về hành vi đốt pháo nổ hoặc đã bị kết án về tội này, chưa bị xoá án tích mà còn vi phạm.

   3.2.2. Truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 2 điều 245 Bộ luật hình sự, phạt tù từ 2 năm đến 7 năm đối với người nào đốt pháo thuộc một trong các hành vi sau đây:

          - Đã bị kết án về tội “Gây rối trật tự công cộng”;

          - Lôi kéo, kích động trẻ em hoặc lôi kéo, kích động nhiều người cùng đốt pháo;

          - Cản trở; hành hung người thi hành công vụ, người bảo vệ trật tự công công hoặc người khác ngăn chặn không cho đốt pháo nổ;

          - Đốt pháo nổ với số lượng tương đương từ 5kg trở lên đối với pháo thành phẩm hoặc tương đương từ 0,5 kg thuốc pháo trở lên.

   3.2.3. Người nào đốt pháo nổ gây thiệt hại nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác thì ngoài việc truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Điều 245 Bộ luật Hình sự, người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội danh khác quy định trong Bộ luật hình sự, tương xứng với hậu quả nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác do hành vi đốt pháo gây ra.

 4. Truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ” đối với:

    - Người sản xuất hoặc chiếm đoạt pháo nổ có số lượng từ 2kg đến dưới 30 kg; chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt thuốc pháo có số lượng từ 1kg đến dưới 15 kg hoặc dưới số lượng đó nhưng đã bị xử lý hành chính hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, bị phạt tù từ 01 năm đến 5 năm. Nếu vận chuyển, mua bán trái phép qua biên giới, bị phạt tù từ 3 năm đến 10 năm.

     - Người sản xuất hoặc chiếm đoạt pháo nổ; chế tạo tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt pháo nổ có số lượng từ 30kg đến dưới 90kg; thuốc pháo có số lượng từ 15kg đến dưới 75kg, bị phạt tù từ 3 năm đến 10 năm;

    - Người sản xuất hoặc chiếm đoạt pháo nổ; chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt pháo nổ có số lượng từ 90kg đến dưới 300 kg; thuốc pháo có số lượng từ 75kg đến dưới 200kg, bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm;

   - Người sản xuất hoặc chiếm đoạt pháo nổ; chế tạo tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt pháo nổ có số lượng từ 300kg trở lên; thuốc pháo có số lượng từ 200 kg trở lên, bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

Người nào cùng lúc phạm nhiều tội thì bị xét xử với mức hình phạt cao của khung hình phạt quy định cho mỗi tội./.

Để góp phần thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 406/TTg và Nghị định số 36/CP của chính phủ về quản lí vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ và về cấm sản xuất, buôn bán, vận chuyển và đốt các loại pháo, Nghị định 137/NĐ-CP ngày 20/11/2020 quy định về quản lý và sử dụng  pháo hoa. Công văn số 358/PGDĐT, ngày 24 tháng 09 năm 2021 của Phòng GD&ĐT về việc tăng cường công tác quản lý, giáo dục pháp luật cho học sinh:, Trường THCS Tân Hoa phổ biến, tuyên truyền đến học sinh một số nội dung như sau để đảm bảo an toàn năm học 2021-2022:

  1. Không sản xuất, tàng trữ, buôn bán, vận chuyển và đốt các loại pháo, không tàng trữ, sử dụng các loại vũ khí, vật liệu nổ, thường xuyên thực hiện nghiêm túc nd 36 của Thủ tướng Chính phủ, nhất là dịp trước, trong, sau Tết Nguyên đán .
  2. Tuyên truyền, vận động người thân và mọi người xung quanh không sản xuất, buôn bán, tàng trữ, vận chuyển và đốt các loại pháo; không tàng trữ và sử dụng các loại vũ khí, vật liệu nổ
  3.  Nếu phát hiện các trường hợp cố ý vi phạm các quy định về phòng chống pháo nổ, vũ khí, vật liệu nổ, mỗi người hãy báo ngay cho cơ quan công an nơi gần nhất để xử lý kịp thời theo pháp luật.

          Nghiêm túc thực hiện các quy định về phòng chống các loại pháo, vũ khí, vật liệu nổ là góp phần đảm bảo trật tự an toàn xã hội, vì bình yên và hạnh phúc của nhân dân, xây dựng đời sống văn hoá, mừng Đảng, mừng xuân, đón mừng năm mới vui tươi, lành mạnh, an toàn và tiết kiệm.

 

 

          

 

 

 

 

 


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Video Clip